Ký sinh trùng nguy hiểm đến mức nào?

Ký sinh trùng nguy hiểm đến mức nào cho chúng ta?Ký sinh trùng là một sinh vật sống trên hoặc trong cơ thể vật chủ và lấy thức ăn của nó từ hoặc bằng chi phí của vật chủ. Có ba loại ký sinh trùng chính có thể gây bệnh cho người: động vật nguyên sinh, giun sán và ngoại ký sinh.

Ký sinh trùng nguy hiểm đến mức nào- Về động vật nguyên sinh

Động vật nguyên sinh là những sinh vật một tế bào cực nhỏ, có thể sống tự do hoặc ký sinh trong tự nhiên. Chúng có thể nhân lên ở người, góp phần vào sự tồn tại của chúng và cũng cho phép các bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng phát triển chỉ từ một sinh vật duy nhất. Sự lây truyền động vật nguyên sinh sống trong ruột của người sang người khác thường xảy ra qua đường phân-miệng (ví dụ, thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm hoặc tiếp xúc giữa người với người). Động vật nguyên sinh sống trong máu hoặc mô của người được truyền sang người khác bằng vật trung gian truyền bệnh (ví dụ, qua vết đốt của muỗi hoặc ruồi cát).

Giun sán

Giun sán là những sinh vật lớn, đa bào thường có thể nhìn thấy bằng mắt thường ở giai đoạn trưởng thành. Giống như động vật nguyên sinh, giun sán có thể sống tự do hoặc ký sinh trong tự nhiên. Ở dạng trưởng thành, giun sán không thể nhân lên ở người. Có ba nhóm giun sán chính (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là giun) ký sinh ở người:

  • Giun dẹp (giun sán) – chúng bao gồm sán lá (sán lá) và cestodes (sán dây).
  • Giun đầu gai (acanthocephalins) – dạng trưởng thành của những con giun này cư trú trong đường tiêu hóa. Các acanthocephala được cho là trung gian giữa giun sán và giun tròn.
  • Giun tròn (giun tròn) – dạng trưởng thành của những con giun này có thể cư trú trong đường tiêu hóa, máu, hệ bạch huyết hoặc các mô dưới da. Ngoài ra, các trạng thái chưa trưởng thành (ấu trùng) có thể gây bệnh do chúng lây nhiễm sang các mô cơ thể khác nhau. Một số người coi giun sán cũng bao gồm giun phân đoạn (annelids) – loài duy nhất quan trọng về mặt y học là đỉa. Lưu ý, những sinh vật này thường không được coi là ký sinh trùng.

Ngoại sinh vật 

Mặc dù thuật ngữ ngoại ký sinh có thể bao gồm rộng rãi động vật chân đốt hút máu như muỗi (vì chúng phụ thuộc vào thức ăn từ máu của vật chủ để tồn tại), thuật ngữ này thường được sử dụng hẹp hơn để chỉ các sinh vật như ve, bọ chét, rận. và bọ ve bám hoặc đào sâu vào da và ở đó trong một thời gian tương đối dài (ví dụ, vài tuần đến vài tháng). Động vật chân đốt có vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh tật, nhưng còn quan trọng hơn với vai trò là vật trung gian, hoặc vật truyền bệnh, của nhiều mầm bệnh khác nhau, từ đó gây ra tỷ lệ mắc và tử vong rất lớn do chúng gây ra.

Nhiễm ký sinh trùng

Nhiễm ký sinh trùng gây ra gánh nặng bệnh tật to lớn ở cả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới cũng như ở các vùng khí hậu ôn hòa hơn. Trong tất cả các bệnh do ký sinh trùng gây ra, sốt rét  gây ra nhiều ca tử vong nhất trên toàn cầu. Bệnh sốt rét giết chết hơn 400.000 người mỗi năm, hầu hết là trẻ nhỏ ở vùng cận Sahara, châu Phi.

Các bệnh nhiệt đới bị lãng quên  (NTDs), vốn không được cộng đồng sức khỏe cộng đồng quan tâm, bao gồm các bệnh ký sinh trùng như bệnh giun chỉ bạch huyết , bệnh ung thư phổi và bệnh giun Guinea . NTD ảnh hưởng đến hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới, phần lớn ở các vùng nông thôn của các nước có thu nhập thấp, mất khả năng đi học hoặc đi làm, chậm phát triển ở trẻ em, suy giảm kỹ năng nhận thức và phát triển ở trẻ nhỏ, và gánh nặng kinh tế nghiêm trọng đặt lên toàn bộ các quốc gia.

Ký sinh trùng nguy hiểm đến mức nào khi sinh sản?

Ký sinh trùng ở người có nhiều hình thức sinh sản như:

  • Sinh sản vô tính bằng cách nhân đôi tế bào. Với phương thức này, một cá thể sẽ tự nhân đôi thành hai cá thể mới mà không có sự giao phối giữa con đực và con cái. Thường gặp ở các ký sinh trùng đơn bào như trùng roi, amip, ký sinh trùng sốt rét,…
  • Sinh sản hữu tính: là hình thức sinh sản thực hiện bằng sự giao phối giữa con đực và con cái như giun đũa, giun móc, giun kim,… Ngoài ra, có những loài ký sinh trùng lưỡng giới, trên cơ thể chúng có cả bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cái để giao phối như sán lá gan, sán dây,…
  • Sinh sản đa phôi: từ kết quả của sinh sản hữu tính, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng phát triển thành nang ấu trùng. Sau đó, trong nang ấu trùng có rất nhiều mầm sinh ra ấu trùng thế hệ thứ hai, ấu trùng thế hệ hai lại sinh ra các ấu trùng thế hệ thứ ba. Các ấu trùng thế hệ thứ ba khi gặp vật chủ thích hợp sẽ phát triển thành sán trưởng thành. Đây là hình thức sinh sản đặc biệt thường thấy ở một số loài sán lá và sán dây, từ một trứng ban đầu sẽ phát triển thành rất nhiều sán trưởng thành.

Ký sinh trùng ở người phát triển như thế nào?

Chu kỳ sống của ký sinh trùng là quá trình phát triển từ trứng cho đến khi trưởng thành, có khả năng sinh sản và tiếp tục chu kỳ mới. Ký sinh trùng ở người có nhiều loại chu kỳ sống và phát triển khác nhau như:

  • Kiểu chu kỳ: người←→ngoại giới. Ví dụ như: giun đường ruột, amip. Giun đường ruột ký sinh ở ruột con người, đẻ trứng. Trứng theo phân bài xuất ra ngoại cảnh. Nếu gặp môi trường đất ẩm, nhiệt độ thích hợp, phôi trong trứng sẽ phát triển thành ấu trùng. Nếu người vô tình ăn phải trứng giun đũa trong nước, thức ăn nhiễm trứng giun. Ấu trùng giun sẽ thoát khỏi vỏ trứng di chuyển từ ruột đến những bộ phận khác trong cơ thể, sau đó trở về ruột và đẻ trứng.
  • Kiểu chu kỳ: người → ngoại giới → vật chủ trung gian → người. Ví dụ như sán lá gan nhỏ. Sán lá gan nhỏ ký sinh trong các đường mật trong gan. Đẻ trứng trong mật, trứng ra ngoại cảnh theo đường phân. Trứng nếu gặp môi trường nước sẽ nở ra ấu trùng lông. Ấu trùng lông tìm ký sinh trong các loại ốc nở ra ấu trùng đuôi. Ấu trùng đuôi rời ốc tìm đến ký sinh trong các loài cá, tạo các nang trùng trong các thớ thịt của các loài cá này. Nếu người ăn các loài cá chứa nang trùng chưa được nấu chín, ấu trùng sẽ xâm nhập vào cơ thể, di chuyển đến ký sinh trong gan mật.
  • Kiểu chu kỳ: người → ngoại giới → vật chủ trung gian → ngoại giới → người. Ví dụ như sán máng, ký sinh trong huyết quản nên còn gọi là sán máu. Sán máng trưởng thành ký sinh trong máu, trứng sán máng ra ngoài theo phân hay nước tiểu. Trứng sán máng rơi xuống nước nở ấu trùng lông để chui vào ốc. Ấu trùng đuôi thoát ra từ ốc, bơi trong nước và chui qua da người vào máu.
  • Kiểu chu kỳ: người → vật chủ trung gian → người. Ví dụ chu kỳ sống của giun chỉ bạch huyết gây bệnh ở người. Muỗi chứa ấu trùng giun chỉ khi đốt sẽ truyền ấu trùng sang người, ấu trùng đến hệ thống bạch huyết phát triển thành giun chỉ trưởng thành và sống trong hệ thống bạch huyết của người. Giun cái trưởng thành đẻ ra ấu trùng, ấu trùng lưu thông trong máu và thường xuất hiện ở máu ngoại vi vào ban đêm. Ấu trùng truyền từ người này sang người khác qua vật chủ trung gian là muỗi.
  • Kiểu chu kỳ: người ←→ người.Ví dụ như trùng roi âm đạo truyền từ người này sang người khác khi giao hợp, ghẻ truyền khi tiếp xúc.

Mặc dù ký sinh trùng ở người có nhiều phương thức sinh sản và nhiều loại có chu kỳ sống phức tạp khác nhau, tuy nhiên nói chung mỗi loại ký sinh trùng đều có tuổi thọ nhất định. Trên thực tế, một số loại bệnh ký sinh trùng sau khi mắc phải sẽ tự hết nếu không bị tái nhiễm. Giữ gìn vệ sinh cơ thể, đảm bảo an toàn khi ăn uống, giữ môi trường sống xung quanh trong lành, sạch sẽ là phương pháp bảo vệ bản thân trước sự xâm nhập của ký sinh trùng.

Cập nhật tình hình dịch bệnh Covid 19 tại đây..

Xem thêm về thông tin các loại khẩu trang nên sử dụng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0983000285
challenges-icon chat-active-icon
chat-active-icon